Học thuyết tâm lý
VÔ THỨC THÍCH NGHI - TÂM NĂNG ĐỘNG (TT)
CÁNH CỬA KHÓA KÍN (TT)
SACH1Vào một tối mùa xuân cách nay không lâu, khoảng hai chục thanh niên nam nữ tụ tập trong phòng riêng ở sau một quan bar để tham gia một nghi thức đặc biệt có tên là speed-dating.

Họ là những trí thức trẻ, có người chập chững vào trường chứng khoán, có người là sinh viên y khoa, có người đang dạy học, có người buôn bán kim hoàn; tất cả mới quen nhau lần đầu nên còn lóng ngóng. Một nữ điều phối viên kêu gọi mọi người trật tự lại và bắt đầu hướng dẫn. Họ sẽ bắt cặp thành từng đôi nam nữ và nói chuyện với nhau trong vòng 6 phút; phía nữ sẽ ngồi trên băng ghế thấp dựa quan sát quanh 3 bức tường, phía nam thì mỗi người một ghế, nhưng cứ 6 phút trò chuyện với một cô thì sẽ chuyển sang ghế bên cạnh để nói chuyện với cô kế tiếp theo hiệu lệnh reng chuông của nữ điều phối viên. Mỗi người đều được phát một bảng số và một tờ phiếu với lời dặn nếu thích ai sau 6 phút trò chuyện thì cứ gạch vào ô bên cạnh  số của người nam hay nữ ấy. Nếu có hai người chọn lẫn nhau, thì trong vòng 24 giờ sau họ sẽ được thông báo địa chỉ email của nhau. Mọi người xì xào đồn đoán. Có người chạy nhanh vào phòng tắm vào phút cuối. Nữ điều phối viên reng chuông.

Nam và nữ bước vào vị trí, và lập tức tiếng trò chuyện nổi lên khắp phòng. Vì ghế của nam cách khá xa băng thế của nữ nên họ phải chồm ra phía trước, chống cùi chỏ lên đầu gối, để nói chuyện với nhau. Có vài cô cứ phải nhấp nhổm mãi trên những miếng nệm của băng ghế. Nữ điều phối viên đứng riêng rẽ ở quầy bar chạy suốt một bức tường. Vừa nhìn các cặp đang rôm rã chuyện trò, cô vừa nói cho mọi người người đều nghe thấy, "Nếu bạn thấy thích ai, thì 6phut1 sẽ qua đi rất nhanh. Nếu thấy không hạp, thì 6 phút dài lê thê. Đôi khi cũng có những chuyện lạ. Tôi nhớ hồi tháng 11 năm rồi, có anh bạn cầm 12 đóa hồng trên tay và cô nào anh nói chuyện với cũng đều được tặng một bông..."

Speed-dating (hẹn hò nhanh) đã trở nên rất phổ biến trên thế giới trong mấy năm gần đây, và điều này cũng dễ hiểu. Nó biến cuộc hẹn hò thành một sự phán đoán nhanh đơn gian. Mọi người khi ngồi xuống với nhau cùng đều có trả lời một câu hỏi đơn giản: Mình có muốn gặp lại người này không? Và để trả lời thì không cần đến trọn một buổi tối. Quả thật chỉ vài phút là đủ. Một cô tham dự buổi tối hôm ấy nói cô đã không chọn được và cô phán đoán về mỗi người rất nhanh, chỉ qua câu chào hello. Một anh là chuyên viên tài chính của một ngân hàng đầu tư đã nói chọn được hai cô, một cô sau một phút rưỡi trò chuyện, một cô ngay khi anh vừa ngồi xuống đối diện - giọng của cô ngọt ngào thấm đậm vào anh ... Khi phải đoán nhanh về các cuộc họ hẹn, nhiều người tỏ ra rất thông minh.

Nếu giả sử phải thay đổi một chút những quy định của speed-dating, thí dụ người điều hành ngồi theo dõi đằng sau một cánh cứa khóa và yêu cầu mọi người giải thích sự lựa chọn của mình thì sao?

Điều này là không thể được, vì làm sao giải thích được cơ chế suy nghĩ của vô thức. Nhưng nếu tôi thiếu thận trọng, cứ ép mọi người phải giải những ấn tượng ban đầu và những phán đoán nhanh của họ thì sao? Hai giáo sư của Đại học Columbia là nhà tâm lý học Sheena lyengar và nhà kinh tế học Raymond Fishman đã làm việc đó, và họ đã khám phá ra rằng nếu bắt mọi người tự giải thích thì sẽ rất rối chuyện.

Câu chuyện bắt đầu từ cuộc tranh luận tại một buổi tiệc về những giá trị tương đối của hôn nhân đặt để (arranged marriage) và hôn nhân do tình yêu (love marriage). Sau đó hai giáo sư mới cùng nhau tổ chức những tối speed-dating đằng sau một quán bar trên đại lộ Broadway của New York. Những người tham dự không chỉ có việc gặp mặt nhau rồi đánh dấu vào các ô có hoặc không. Họ phải bốn lần trả lới một bảng câu hỏi ngắn bằng cách cho điểm từ 1 đến 10 những gì mà họ mong đợi ở người bạn đời của mình về những phương diện như vẻ hấp dẫn, sự đồng quan tâm, tính vui vẻ/khôi hài, sự thành thật, óc thông minh, và tham vọng. Bốn lần trả lời ấy là: lần trước khi gặp; lần sau buổi gặp mặt; một tháng sau; và sáu tháng sau. Ngoài ra, cứ sau mỗi buổi gặp mặt, họ lại phải cho điểm người bạn ấy về những phương diện đã kể ở trên. Và sau một trong những buổi tối hẹn hò của họ của họ, hai giáo sư Fishman và lyengar lại thu được một bức tranh chi tiết và chính xác đến không thể tin được về những cảm giác của họ trong quá trình tìm hiểu nhau. Và có nhìn vào bức tranh ấy mới thấy sự lạ.

Thí dụ anh và chị đến nơi hẹn. Anh tiến đến cái bàn mà chị đang ngồi. Bốn mắt như khóa nhau nhau. Chị cúi xuống e thẹn, có vẻ hơi bối rối, hơi chúi người về phía trước. Nhìn bề ngoài dường như đã bị quyến rũ lúc ấy rồi. Nhưng có phải tính cách của anh khớp với tính cách của người mà chị đã mô tả trong bảng câu hỏi đã làm trước buổi hẹn gặp không? Hai giáo sư thấy không khớp. Một là, chị đã mô tả người mình yêu phải thông minh và chân thành, nhưng anh thì chỉ có nét quyến rũ và tính vui vẻ thôi chứ không thể nói là thông minh và chân thành được. Hai là, vì cái anh mà chị thấy thích tỏ ra là quyến rũ và vui tính hơn là thông minh và chân thành, nên ngày hôm sau chị đã trả lời bảng câu hỏi là chị mong đợi người bạn đời của mình phải quyến rũ và vui tính. Nhưng chỉ là lần ấy thôi. Bởi vì một tháng sau chị trả lời trong bảng câu hỏi là chị muốn người bạn đời phải thông mình và chân thành.

Vậy thực sự chị muốn gì ở người bạn đời của mình?

Giáo sư lyengar đã hỏi chị ấy, và được trả lời "Tôi không biết nữa. Có thật tôi chính là người mà tôi  đã mô tả không?" Và giáo sư Fishman tiếp lời, "Một kinh tế gia sẽ trả lời, cái tôi thật là cái tôi được thể hiện qua hành động của mình." Giáo sư lyengar bối rối, không biết rằng liệu một nhà tâm lý học sẽ có nói như vậy không.

Hai vị giáo sư đã không thể đồng ý với nhau, nhưng đó là vì không có một câu trả lời nào là đúng cả. Chị ấy có một ý tưởng về người bạn đời của mình, ý tưởng đó không phải là sai, nhưng nó không đầy đủ. Sự mô tả của chị ấy là sự mô tả của ý thức chủ quan có suy nghĩ. Nhưng chị không thể nói chắc về những tiêu chuẩn lựa chọn mà chị sẽ dùng trong phút giây đầu tiên gặp gỡ. Bởi vì những tiêu chuẩn ấy nằm sâu trong cánh cửa khóa kín của vô thức.

Huấn luyện viên tennis Vic Braden cũng từng có một kinh nghiệm tương tự với những tay vợt nhà nghề. Ông thận trong nói chuyện với càng nhiều tay vợt hàng đầu thế giới càng tốt, hỏi họ tại sao trong trận ấy họ lại đánh như thế, và lần nào ông cũng thất vọng. Không một tay vợt hàng đầu nào luôn luôn biết được và giải thích được chính xác tại sao; lúc thì họ nói thế này, lúc nói thế khác, lúc thì nói linh tinh.

Ông cũng thu băng những trận đánh của họ để phân tích từng động tác trên máy vi tính, thí dụ để xem Pete Sampras đã xoay vai bao nhiêu độ khi đánh cú rờ-ve chéo chân.

Ông cũng đã phân tích cú đánh thuận tay của Andre' Agassi, lúc ấy Agassi gầy như que củi nên mọi cử động của các khớp tay đều thấy rõ mồn một. Hầu như ai cũng nghĩ Agassi dùng cổ tay để lướt vợt lên trái banh khi đánh cú tiu thuận tay. Phân tích trên máy tính có thể cho thấy rõ cả khi cổ tay chỉ xoay có 1/8 độ; nhưng băng ghi hình cho thấy Agassi chỉ xoay cổ tay một hồi lâu sau khi đã được đánh banh đi. Agassi nghĩ mình đã xoay cổ tay khi vợt chạm banh là không đúng. Thế mà nhiều người đã bỏ ra hàng trăm đô la để học động tác xoay cổ tay để tiu, kết quả là số chấn thương cổ tay đã tăng vọt bất ngờ.


Braden cũng thấy vấn đề tương tự với cầu thủ bóng chày (baseball) ted Williams. Anh là người đánh bóng vĩ đại nhất, được kính trọng về kiến thức cũng như trực giác của anh. Anh thường nói có thể thấy rõ đường đi của trái bóng để xác định điểm tiếp xúc của bóng với mặt chày. Nhưng Braden vốn chuyên nghiên cứu về tennis biết điều đó là không thể. Trong khoảng 5 bộ (=1m5) cuối cùng, trái banh tennis đã quá gần và đi quá nhanh để có thể thấy được nó. Người chơi lúc đó gần như mù. Trái banh của bóng chày cũng thế, trong 1m5 cuối cùng nó chỉ đi có 3 phần ngàn giây. Ông nói nhận xét của mình với ted Williams, và anh này trả lời dường như anh có thể làm được điều đó.

Là người ai cũng có lúc dựng chuyện, nói những điều không thực bụng. Chúng ta hơi hấp tấp đưa  ra những lời giải thích về những điều thật ra không thể giải thích.

Cách nay đã nhiều năm, nhà tâm lý học Norman R.F Maier treo hai sợi dây dài lên trần của một căn phòng đầy ắp những vật dụng và bàn ghế. Hai sợi dây được treo cách nhau một quãng xa hơn tầm dang tay của mọi người; không ai có thể dang tay ra nắm được cả hai đầu sợi dây cùng một lúc. Những người tham gia thí nghiệm được hỏi có bao nhiêu cách để có thể cột hai đầu của sợi dây lại với nhau. Có bốn đáp án khả dĩ.

Đáp án 1: Kéo sợi này về phía sợi kia cho đến khi không kéo được nữa, buộc đầu sợi vào một cái ghế rồi đi kéo sợi kia lại để buộc chúng vào nhau.

Đáp án 2: Dùng một đoạn dây thứ ba để kéo sợi dây này về phía sợi kia rồi buộc chúng lại.

Đáp án 3: Nắm đầu sợi dây này, rồi dùng một cái sào dài móc sợi kia lên để buộc.

Đáp án 4: Lắc sợi dây này cho nó đong đưa như một quả lắc để có thể nắm lấy mà buộc vào sợi kia.

Phần lớn những người tham gia thí nghiệm đều dễ dàng nghĩ ra ba đáp án đầu. Riêng đáp án thứ 4 chỉ có vài người là nghĩ ra. Maier cứ để cho họ ngồi và bối rối chứng 10 phút, rồi ông không nói không rằng bước ngang qua phòng và làm như vô tình gạt một sợi dây để cho nó đong đưa qua lại. Y như rằng, sau khi ông làm việc ấy thì đa số bỗng đồng loạy nói à há! Và khám phá ra cái giải pháp con lắc này.

Nhưng khi Maier yêu cầu mọi người diễn tả bằng cách nào họ nghĩ được như thế, thì chỉ có một người nói đúng lý do. Những người khác thì nói lung tung, đại loại như: Tôi chợt lóe lên ý đó; hoặc : hoặc chỉ còn cách này thôi; hoặc: Có lẽ do đã học một bài vật lý lâu rồi; hoặc: Tôi nghỉ đến hình ảnh một con khỉ đu mình từ cây này sang  cây khác; v.v.v. Họ có nói dối không? Họ có xấu hổ phải phải thú nhận chỉ nghĩ ra giải pháp nhờ sự gợi ý của Maier không? Hoàn toàn không. Bởi vì gợi ý của Maier tinh tế quá nên chỉ có thể nắm bắt được ở bình diện vô thức. Nó được xử lý đằng sau cánh cửa đóng kín của não bộ, nên khi bị thúc ép phải có một lời giải thích, mọi người chỉ có thể nghĩ ra một câu chót lưỡi đầu môi.

Vô thức cũng có cái giá phải trả của nó. Khi yêu cầu người ta giải thích sự suy nghĩ của họ - đặc biệt là những suy nghĩ từ vô thức - chúng ta nên thận trọng trong cách diễn dịch câu trả lời. Đối với tình yêu, ai cũng biết như thế. Làm sao diễn tả được một cách thuần lý cái người mà ta đang yêu: đó cũng là lý do mà những người hò hẹn và đợi chờ - chờ để trắc nghiệm những lý thuyết về  người đã cuốn lấy hồn mình. Đối với thể thao hay âm nhạc cũng vậy. Để chơi tennis, chơi golf, hay chơi đàn, cách hay nhất là theo học một ông thầy; học bằng cách chơi thật, chứ không phải học bằng cách nghe giảng, bởi vì trăm nghe không bằng một thấy, trăm hay không bằng tay quen.

Nhưng có những lúc ta đòi hỏi một lời giải thích, dù biết rằng có nói mấy cũng bằng thừa, mà có khi còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng nữa. O.J.Simson là một ngôi sao bóng đá (tên tuổi của anh đưa vào Bảo tàng Bóng đá Chuyên nghiện Hoa kỳ - Pro Football Hall of Fame - năm 1986) bị kết tội đã đã giết vợ và tình nhân của vợ chồng hồi tháng 06/1994 khi người ta thấy xác hai  người ở gần ngôi nhà của anh. Phiên tòa xử kéo dài từ tháng 01 đến tháng 10/1995 đã gây xôn xao dư luận toàn thế giới vì những tranh cãi liên quan đến vấn đề chủng tộc, sự bạo hành trong gia đình, và thủ tục bắt người của cảnh sát. Và anh ta được xử vô tội (acquited of the charges). Tuy nhiên trong một vụ kiện dân sự năm 1997, anh ta lại bị xử là phải chịu trách nhiệm về cái chết của hai người nói trên và phải chịu bồi thường nhiều triệu đôla cho gia đình của gian phu và tài sản của dâm phụ. Sau phán quyết của tòa, một thành viên ban hội thẩm phát biểu trên tivi và quả quyết rằng quyết định của họ tuyệt đối không liên can gì đến vấn đề sắc tộc. Nhà tâm lý học Joshua Aronson không đồng ý với sự khẳng định này; Ông viện dẫn những trắc nghiệm của Maier với những sợi dây treo, để chứng minh rằng con người thương không biết những điều đã ảnh hường mình không biết. Và ông nói rằng chúng ta cần thừa nhận sự không biết của mình thường xuyên hơn nữa.

Năm 1980 Abbie Conant khởi đầu sự nghiệm nhạc của mình ở Ý. Chị chơi kèn trombone trong đoàn Royal Opera of Turin. Mùa hè năm ấy, chị đã nộp đơn xin một chân trong nhiều dàn nhạc opera ở khắp châu Âu. Một bức thư trả lời đến từ Munich Phiharmonic Orchestra mở đầu như sau: Dear Herr Abbie Conant,". Bây giờ hồi tưởng lại, cái lỗi về giới tính ấy có thể đã rung mọi cái chuông báo động tron tâm trí của cô. Trong tiếng Đức, Herr có nghĩa là Ông.

Buổi nghe thử (audition) được tổ chức tại Deutsches Museum ở Munich. Có 33 ứng viên, mỗi người biểu diễn sau một tấm phong che để giám khảo không thấy được sắc mặt. Sự nghiệp thử giấu mặt này lúc ấy chưa phổ biến ở châu Âu, nhưng bởi vì có một ứng viên là con trai của một vị trong dàn nhạc, nên vòng sơ tuyển phải làm như vậy.

Conant mang số 16, cô đã chơi bài Konzertion for Trombone của Ferdinand David và đã sót một nốt nhạc. Cô nói "Thế là xong, rồi ta hậu trường nhặt đồ của mình để đi về. Nhưng ban giám khảo lại nghĩ khác. Họ ngạc nhiên. Nghe thử là thời khắc để cắt nhỏ kinh nghiệm (thin-slicing). Những nhạc công cổ điển được huấn luyện đều nói rằng họ có thể biết ngay ai dở ai hay chỉ nhau vài nhịp (bar) đầu tiên, đôi khi chỉ cần một nốt nhạc (note) đầu tiên. Và Conant chính là trường hợp ấy. Sau khi cô rời thính phòng, giám đốc âm nhạc của Phiharonic là Sergiu Celibidache đã la lên, "Tôi muốn có cô ấy! Mười bảy ứng viên còn lại được mời về nhà không phải diễn thử nữa. Người ta vào hậu trường và thấy chị còn đó, họ mời chị trở lại thính phòng. Chị vừa bước ra từ sau tấm phong che thì nghe một giọng nói vùng Bavaria (tiểu bang lớn nhất của Đức, thù phủ là Munich) la lên "đứng lại". Họ đang tìm herr Conant (ông Connant). Còn đây là Frau conant (cô/bà Conant)!

Thật là một tình huống khó xử. Ông Celibidache là một chỉ huy dàn nhạc thuộc trường phái cũ, vừa độc đoán lại vừa kiên quyết về cách diễn tấu cũng như về người diễn tấu. Hơn nữa, đây lại là quê hương của nhạc cổ điển. Có lần ngay sau khi thế chiến thứ hai vừa chấm dứt, đoàn Vienna Phiharmonic thử nghiệm việc che phông nghe thử thì ông chủ tịch lúc đó là Otto Strasser đã viết trong nhật ký là "một tình thế lố bịch" khi một ứng viên được chấm là đã biểu diễn xuất sắc nhất, nhưng khi tấm phông che được vén lên thì cả ban giám khảo phải sửng sốt vì đó là một người Nhật thì không thể biểu diễn với cả tâm hồn hay trung thành như một người châu Âu được. Celibidache cũng thế, ông quan niệm rằng một phụ nữ thì không thể chơi trombone được. Trong đoàn cũng có hai nữ nhạc công chơi violin và oboe, nhưng đó chỉ là nhạc cụ dành cho phái nữ. Còn trombone là dành cho phái nam, thường sử dụng trong các ban quân nhạc tấu trong những buổi diễu hành. Còn các nhà soạn lịch opera thì dùng trombone để khắc họa thế giới ngầm và cõi âm. Trong những bản giao hưởng số 5 và số 9, Beethoven dùng trombone để gây ồn.

Vẫn còn hai đợt nghe thử nữa. Conant xuất sắc vượt qua. Nhưng lại một lần nữa Celibidache và ban giám khảo lại vẫn đắn đo với con người phụ nữ đành rành này, ấn tượng ban đầu về những buổi diễn tấu của cô vẫn còn phải dây dưa với những thành kiến cố đế thâm căn. Cơ được nhận vào dàn nhạc còn Celibidache thì hầm hừ. Một năm sau. Lúc bấy giờ là tháng 5/1981, conant  được mời dự một cuộc họp. Cô bị giáng xuống làm cây trombone thứ hai mà không có lý do nào cả. Cô đã phải tập sự thêm một năm để chứng tỏ mình lần nữa. Vẫn không có gì thay đổi. Celibidache nói với cô, "Cô biết đấy, chúng tôi cần một nam để độc tấu trombone"

Conant không còn lựa chọn nào khác là đưa vụ việc ra tòa.

Trong bản tường trình của mình (brief), ban nhạc nói rằng đương đơn không có thể lực cần thiết để làm cây trombone chính. Conant được gởi đến bệnh viện phổi Gautinger để khám kỹ. Cô đã phải thổi qua những máy móc chuyên dụng, phải lấy mẫu máu để đo khả năng hấp thụ khí oxy, và phải khám lòng ngực. Tất cả đều cho kết quả trên trung bình rất xa. Thậm chí điều dưỡng viên còn tưởng cô là một lực sĩ. Vụ kiện cử dây dưa mãi.

Dàn nhạc cho rằng sự hụt hơi của Conant có thể nghe rõ khi độc tấu trombone trong tác phẩm  Requiem (kinh cầu hồn) của Mozart, mặc dù vị nhạc trưởng khách mời của những buổi diễn ấy còn nói riêng với conant lời khen ngợi. Người ta dàn dựng một buổi nghe thử đặc biệt trước một chuyên viên về trombone. Conant  chơi 7 khúc khó nhất trong các tấu khúc kén trombone. Vị chuyên viên hết lời khen ngợi.

Dàn nhạc lại cho rằng cô chơi không ổn định và không chuyên nghiệp. Cũng chỉ là dối trá. Sau tám năm khiếu kiện, Conant được trở lại làm cây trombone chính. Nhưng lại một cuộc chiến dằng dai nữa khởi phát - lần này có kép dài 5 năm - vì dàn nhạc trả lương cô thấp hơn những đồng nghiệp nam. Cô lại thắng kiện. Lý lẻ của cô làm cho ban nhạc Munich Philaharmonic không sao phản bác được.

Thế giới nhạc cổ điển - nhất là ở quê hương châu Âu của nó - cho đến rất gần đây vẫn là lãnh địa của đàn ông da trắng. Người ta tin rằng phụ nữ không thể chơi như phái nam được, vị họ yếu hơn, vì họ không có phong thái và vẻ kiên cường trong một vài tấu khúc. Môi họ cũng khác. Phổi họ không có lực bằng. Tay họ nhỏ bé. Có vẻ không có gì là thành kiến; có vẻ như là thật, vì mỗi dịp có buổi thử nghe thì phái nam hầu như luôn luôn làm tốt hơn phái nữ. Không ai để ý xem xét các cuộc nghe thử được tổ chức thế nào, vì người ta tin rằng đã là chuyên gia âm nhạc thì có thể nghe nhạc trong bất kỳ hoàn cảnh và tiêu chuẩn nào, luôn luôn sẵn sàng và khách quan. Các cuộc nghe thử của những dàn nhạc lớn đôi khi còn được tổ chức trong phòng thay quần áo của nhạc trưởng hoạc trong phòng khách sạn nơi ông ta đến trọ qua đêm; người chơi chỉ cần biểu diễn trong 2 phút, 5 phút, hoặc 10 phút là đủ. Chuyên gia chỉ cần nhắm mắt cũng biết diễn tấu là nam hay nữ, vì nữ thường chơi êm hơn và uyển chuyển hơn nam. Nhưng vài chục năm gần đây thành kiến trọng nam khinh nữ trong giới nhạc cổ điển đã không còn nữa.

Con người thường hay lơ là với năng lực nhận biết nhanh của mình. Chúng ta không biết cái ấn tượng ban đầu từ đâu mà tới, hoặc chính xác nó muốn nói lên điều gì, do đó chúng ta không nghiêm túc đối với nó. Hãy trân trọng nó, vì nó rất mong manh. Ở đây chúng ta thấy ông Celibidache đã trực nhận được tài năng của Abbie Conant sau tấm phông che; không có sự quyết định nhanh của ông, cô ta làm sao vào được ban nhạc này? Nhưng cũng chính ông phủ nhận tài năng ấy ngay khi biết người diễn tấu này là phụ nữ; cái thành kiến của  Celibidache  nói riêng và của giới nhạc cổ điển nói chung đã làm cho con đường khẳng định tài năng của Abbie Conant gặp bao nỗi truân chuyên!

Chúng ta thường rất miễn cưỡng chấp nhận những gì xảy ra trong một chớp mắt. Dường như chúng ta không kiểm soát đuôc những gì xuất phát từ vô thức. Nhưng có đấy, vì nếu chúng ta kiểm soát được hoàn cảnh xảy ra nhận thức nhanh, thì chúng ta sẽ kiểm soát được hoàn cảnh xảy ra nhận thức nhanh, thì chúng ta sẽ kiểm soát được bản thân nhận thức nhanh.

Nguồn từ sách : Vô thức thích nghi tâm năng động
(ĐÀO CHÌNH - ĐOAN NGHIỆM)

 

Tư vấn trực tuyến

Tư vấn tâm lý
1900 58 58 98
Bảo hiểm tinh thần
1900 58 58 98

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

We have: 9 guests, 1 bots online
Your IP: 38.107.179.227
 , 
Today: Tháng 5 20, 2012