Học thuyết tâm lý
| VÔ THỨC THÍCH NGHI - TÂM NĂNG ĐỘNG (TT) |
| Thứ sáu, 27 Tháng 5 2011 04:42 |
|
Ngoài nội dung tin, còn có những lời chào hỏi và những trao đổi trái phép khác, đó cũng là căn cứ để xác định người phát tin. Qua đó interceptor có thể mô tả những ký tự và kiểu viết đồng thời đặt tên cho người phát tin, và thu thập những thông tin về cá nhân ấy. Sau khi đã xác định nhân nhân của người phát tin, interceptor sẽ xác định được địa điểm phát tin, và theo dõi được hành tung di chuyển của người phát tin trên toàn châu Âu. Nhờ đó quân đồng minh có thể lên kế hoạch chiến đấu một cách chắc chắn. Điều then chốt của những ký tự là nó có tính tự phát. Người phát tin không chủ ý dùng những ký tự riêng, nhưng một phần nào trong cá tính của họ đã tự động diễn đạt một cách vô thức qua mã Morse. Một điều khác của ký tự là np1 tự bộc lộ ra ngay trong những chi tiết nhỏ nhất của mã Morse. Chỉ cần nghe một vài chữ là có thể biết được cá nhân người phát tin là ai. Gottman muốn nói rằng mối quan hệ giữa hai cá nhân cũng có một ký tự riêng. Do đó có thể dễ dàng độc và giải mã một cuộc hôn nhân. Theo Gottman trong quan hệ giữa những con người chỉ có hai trạng thái. Trong trạng thái tình cảm tích cực lấn lướt (positive sentiment override) người ta dễ dàng bỏ qua những sai trái của người phối ngẫu; trạng thái tích cực giống như một cái giảm xóc (buffer - hoặc cái đệm). Trong trạng thái tình cảm tiêu cực lấn lướt (negative sentiment override) thậm chí một điều nhỏ nhặt vô tư cũng khiến người ta kết luận đủ thứ về nhau. Đã ghét nhau rồi thì dù người này có làm một hành vi tích cực, người kia cũng nghĩ cái kẻ ích kỹ như vậy mà bày đặt làm ra điều ta tốt lắm đây. Thật khó để thay đổi trạng thái tình cảm, và chính trạng thái tình cảm quyết định liệu khi một người đang cố sửa lỗi thì người kia có xem đó như một sự sửa sai hay chỉ là một mánh khóe thì nghịch. Gottman còn vẽ ra giấy một biểu đồ theo dõi sự lên xuống của những tình cảm tích cực hay tiêu cực của vợ chồng, và thấy rằng chỉ cần nhìn vào biểu độ là có thể biết diễn biến tiếp theo của tình cảm vợ chồng. Theo ông, một khi tình cảm bắt đầu đi xuống chiều hướng tiêu cực thì 94% trường hợp là tiếp tục đi xuống. Đã bước vào đường xấu rồi thì không thể nào cải sửa. Theo ông, tình hình này không chỉ là một lát cắt của thời gian, mà còn là một chỉ dấu của quan điểm của hai vợ chồng về toàn bộ mối quan hệ của họ. Gottman đã khám phá được rằng cuộc hôn nhân nào cũng có đặc điểm gì nổi bật của riêng nó, và có thể tìm ra nét riêng ấy qua những thông tin chi tiết về tình cảm từ mối tương giao giữa hai vợ chồng. Cái hay là ở chỗ Gottman đã đơn giản hóa công việc đoán định của mình. Gottman có một cuộn băng trong đó có ghi 10 mẩu đối thoại của 10 cặp vợ chồng, mỗi mẫu dài 3 phút. Ông cho biết rằng có 5 cặp đã chia tay nhau 15 năm ngày ghi băng và 5 cặp vẫn còn chung sống với nhau, và đố mọi người đoán xem cặp nào chia tay cặp nào không. Có quá nhiều ti tiết trong đoạn băng ngắn ấy, mà càng xem lại càng phát hiện ra thêm, những chi tiết tích cực đan xen những chi tiết tiêu cực, những chi tiết mình tưởng là tích cực hóa ra lại là tiêu cực và ngược lại. Dù được biết Gottman có một hệ thống phân loại 20 biểu hiện tình cảm khác nhau gọi là hệ thống mã SPAFF, nhưng làm sao người xem có thể trong một thời gian ngắn như vậy mà theo dõi được hết 20 loại tình cảm xảy ra đồng thời. đã có đến gần 200 bác sĩ chuyên khoa, nhà nghiên cứu về hôn nhân, mục sư, sinh viên cao học về tâm lý trị liệu, những cặp mới cưới, những cặp mới ly dị, những cặp đang hạnh phúc được xem cuộn băng này, và tính chung lại thì tỷ lệ số trường hợp đoán trúng cũng chỉ là 53,8%. Gottman tài tình hơn nhiều. Ông có thể vào một nhà hàng, nghe lóm chuyện của bàn bên cạnh, và đoán được cặp ấy liệu có chia tay nhau không. Ông không cần chú ý đến tất cả những chi tiết xảy ra, ông nghe có chọn lọc. Ông chỉ tập trung vào cái mà ông gọi là Bốn Kỵ Sĩ (Four Horsemen), đó là: phòng vệ (defensiveness), ngăn chặn (stonewalling), chỉ trích (cricism), khinh miệt (contempt). Thực ra ông cho rằng tình cảm quan trọng nhất là khinh miệt. Nếu quan sát thấy một hoặc cả hai bên mà biểu lộ sự khinh miệt thì hôn nhân ấy chắc chắn có vấn đề. Theo Gottman, người đời thường lên án tính hay chỉ trích; khi một bên chỉ trích tất nhiên bên kia sẽ có phản ứng phòng vệ, điều này dĩ nhiên là không tốt cho mối tương giao và giải quyết vấn đề. Nhưng khi một bên phát biểu ở tư thế kẻ cả, ở một mặt bằng cao hơn bên kia, thì tai hại hơn rất nhiều; lời lẽ phần nhiều sẽ là sỉ nhục. Khi bị người yêu khinh miệt thì người ta rất căng thẳng; sự khinh miệt tác động lên hệ miễn dịch của người ta, trục xuất người ta ra khỏi cộng đồng sinh hoạt. Theo Gottman sự khác biệt lớn nhất về giới tính trong những tình cảm tiêu cực là phái nữ thì hay trỉ trích còn phái nam thì hay ngăn chặn. Khi phái nữ lên tiếng về một vấn đề phái nam sẽ tỏ ra bức xúc là lảng ra xa, làm cho phái nữ càng chỉ trích hơn và phái nam càng xa lánh hơn, vòng tròn cứ thế loang rộng mãi. Nhưng đối với khinh miệt thì cả hai phái đều có như nhau. Nếu đã phát hiện có tình cảm khinh miệt thì không cần phải để ý đến những chi tiết khác nhau nữa. Có lẽ vô thức của chúng ta cũng hoạt động tương tự. Vô thức sàng lọc tình thế trước mắt, loại bỏ những gì không liên quan, nhắm vào cái thật sự quan trọng. Và sự thật là vô thức làm việc này rất tốt, đến mức sự chia cắt nhỏ (thin-slicing) cho kết quả tốt hơn nhiều sách suy nghĩ thận trọng và thấu đáo. Nhà tâm lý học Samuel Gosling đã chứng minh rằng chia cắt nhỏ (thin-slicing) là cách hiệu quả nhất để đánh giá một người. Ông làm thí nghiệm với 80 sinh viên và một bảng câu hỏi (quesitonnaire) về năm phương diện (dimesion): 1. Tính hướng ngoại (extraversion): Bạn là người thích giao du (sociable) hay thích xa lánh (retiring)? Bạn ham vui (fun - loving) hay giữ kẽ (reserved)? 2. Tính dễ chịu (agreeableness): Bạn là người cả tin (trustling) hay là người đa nghi (suspicious)? Bạn thích giúp đỡ (helpful) hay không hợp tác (uncooperative)? 3. Sự chu đao (conscientiousness): Bạn là người ngăn nắp (organised) hay lộn xộn (disorganised)? Bạn tự kỷ luật (self-disciplined) hay yếu lòng (weak willed)? 4. Sự ổn định tình cảm (emotional stability): Bạn là người hay lo (worried) hay bình tĩnh (calm)? Bạn dễ giao động (insecure) hay vững vàng (secure)? 5. Sự thoáng đạt (openness to new experences): Bạn giàu tưởng tượng (imaginative) hay là người có óc thực tế (down-to-earth)? Bạn có tính độc lập (independent) hay thuận theo người khác (conforming)? Ông nhờ những người bạn thân của 80 sinh viên nói trên nhận xét về họ bằng cách điền vào bảng câu hỏi của ông. Kết quả là nhận xét của những bạn thân khá là chính xác. Họ đã có bề dày kinh nghiệm (thick slice pf experience) với người được nhận xét và đã chuyển thể thành những cảm nhận đích thực (real sense) về người ấy. Rồi ông lập lại thí nghiệm bằng cách nhớ những người chưa từng gặp mặt người chưa được nhận xét. Họ chỉ được nhìn vào phòng ngủ tập thể của người được nhận xét trong 15 phút rồi trả lời những câu hỏi rất cơ bản trong bảng câu hỏi (questionnaire) mà họ được trao, bằng cách cho điểm 1 đến 5. những câu hỏi đại loại như sau: Bạn ấy có hay hay nói chuyện không? Bạn có thích bắt lỗi người khác không? Bạn ấy có chuyên tâm vào công việc mình làm không? Bạn ấy có độc đáo không? Bạn ấy có giữ kẽ không? Bạn ấy có hay giúp đỡ và không ích kỷ không? V.v... Gosling chỉ muốn biết cách thức phán đoán bằng trực giác của họ mà thôi. Kết quả là những người này không giỏi bằng những người bạn thân trong việc đánh giá tính hướng ngoại (extraversion) và tính dễ chịu (agrreableness) của người được nhận xét. Muốn biết được hai tính trên của người nào thì phải tiếp xúc thân cận với người ấy. Nhưng với ba phương diện còn lại của bảng câu hỏi, thì những người lạ cho kết quả chính xác hơn. Nói chung thì những người lạ lạu nhận xét giỏi hơn nhiều. Như vậy chỉ cần 20 phút cũng đủ để nhận xét giỏi hơn là đã quen biết từ lâu. Như vậy chỉ cần đến nhà người lạ liếc qua một lượt là biết được tính người chứ chẳng cần phải lân la bù khú qua nhiều bữa ăn. Chắc là có nhiều người không tin vào kết luận của Gosling. Nhưng nếu họ biết được những nghiên cứu của John Gottman về 3.000 cặp vợ chồng nói ở trên, hẳn họ sẽ nghĩ khác. Thí nghiệm của Gosling là một thí dụ thứ hai về khái niệm chia cắt nhỏ (thin-slicing). Những vật dụng cá nhân nói lên nhiều điều về con người sở hữu chúng. Việt Nam ta có câu trông mặt mà bắt hình dong cũng là một ví dụ về khái niệm chia cắt nhỏ. Gosling cho rằng phòng ngủ của một người cho ta ba đầu mối (clue) về cá tính của người ấy: Một là sự khẳng định về nhân dạng (identily claim), nghĩa là một cái hình ảnh mà người ấy chủ ý muốn ta nhìn thấy; thí dụ treo lên tường cái bằng tốt nghiệp tối danh dự ở đại học Harvard. Hai là phần sót lại của tác phong (behavioral residue), là những đầu mối mà người ấy vô ý để lại trong phòng: thí dụ quần áo dơ vứt bừa bãi, hay một bộ sưu tập đĩa CD xếp đặt theo thứ tự chữ cái. Ba là những đồ vật hay cách bày trí mang tính điều chỉnh cho tư tưởng và cảm xúc (thoughts & feelings regulator) của người ấy; thí dụ một cây nến thơm đặt ở góc phòng, một chồng nệm trang trí xếp thật khéo trên giường. Những điều người ấy nói về mình thường khó mà khách quan. Do đó khi đo lường một nhân cách (personality - tính cách của một con người) đừng nên hỏi thẳng thừng anh ta nghĩ mình như thế nào. Hãy đưa ra một bảng câu hỏi được chuẩn bị kỹ càng để moi được những câu trả lời lộc lộ ra hết (telling response). Đó cũng là lý do Gottman không phí thời gian với những câu hỏi thẳng thừng về tình hình cuộc sống chung của các đôi vợ chồng. Họ có thể nói dối hoặc lúng túng; quan trọng hơn nữa có thể họ không biết sự thật ra sao cả. Có thể họ bị sa lầy quá sâu hoặc đã được quá thoải máu trong mối quan hệ này rồi nên không hình dung được thực sự nó ra làm sao. Đa số những cặp vợ chồng khi được cho xem đoạn băng ghi hình cuộc nói chuyện của họ tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy bộ dạng của mình hoặc những lời lẽ của mình. Họ không bao giờ nghĩ mình lại như thế cả. Nhiều người nghĩ mình sẵn sàng giúp đỡ hơn, hoặc tiêu cực hon là như đã thấy ở trong đoạn băng. Nếu những cặp vợ chồng không biết mình đã như thế nào, thì đặt câu hỏi thẳng thừng là vô ích. Do đó Gottman chỉ hỏi họ những râu ria chung quanh cuộc hôn nhân chứ không hỏi thẳng vào cuộc hôn nhân. Ông chăm chú vào những dấu vết tình cảm thoáng qua trên gương mặt; dấu hiệu căng thẳng tìm thấy trong tuyến mồ hôi của lòng bàn tay, nhịp tim chợt tăng vọt, một âm thanh tế vi len vào lời trao đổi. Ông đến với sự thật bằng những đường phụ mà ông thấy còn nhanh hơn và hiệu quả hôn là con đường trực diện. Hãy đi xa thêm một bước nữa với khái niệm chia cắt nhỏ. Giả sử công ty của bạn chuyên bán hợp đồng bảo hiểm cho hành vi sơ xuất của các bác sĩ trong việc chữa bệnh. Bạn phải tìm cho được vị bác sĩ nào có khả năng bị kiện nhất. Bạn có hai chọn lựa. Hoặc xem những giấy tờ chứng nhận về việc học của vị bác sĩ ấy và phân tích sổ sách xem trong mấy năm vừa qua vị này đã phạm bao nhiêu sai lầm. Hoặc nghe những đoạn băng ghi âm chuyện trò giữa bác sĩ và những bệnh nhân. Có lẽ bạn nghĩ chắc là lựa chọn thứ hi là tốt nhất. Đúng, nhưng tại sao? Dù bạn có tin hay không tin, nhưng cai rủi ro bị kiện vì chữa bệnh sai không có liên quan gì mấy tới số lần phạm sai lầm của bác sĩ ấy. Những phân tích về các vụ kiện chữa bệnh sai cho thấy có những bác sĩ rất giỏi lại bị kiện nhiều lần, và những bác sĩ chưa bệnh sai nhiều lần nhưng chưa bao giờ bị kiện. Đồng thời, phần lớn những người bị mang tật do sự chểnh mảng của bác sĩ không đi kiện bao giờ. Nghĩa là người ta không đi kiện vì bác sĩ tồi nếu không có cái gì khác nữa xảy ra với họ. Cái khác bữa ấy là cái gì? Là cách đối xử của bác sĩ trên bình diện con người đối với bệnh nhân. Một luật sư tên tuổi chuyên về những vụ này nói rằng không ai đi kiện vị bác sĩ mình yêu mến. Ông kể một chuyện một nữ bệnh nhân phải cắt bỏ vú vì bác sĩ nội khoa của cô không phát hiện sớm khối u, tuy rằng lỗi chính là do bác sĩ X quang. Cô đã nhờ ông khởi kiện và nói sở dĩ cô đi kiện vì bác sĩ này đã không bao giờ hỏi han đến những triệu chứng khác của cô, đã không bao giờ nhìn đến cô như một con người đầy đủ, đã không bao giờ cắt nghĩa cho cô và trả lời những câu hỏi của cô. Như vậy cái cần phải tìm hiểu chính là mối quan hệ giữa bác và bệnh nhân. Nhà nghiên cứu y khoa Wendy Levinson đã ghi chép vài trăm cuộc trò chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân của họ. Một nửa bác sĩ ấy chưa từng bị kiện. Một nửa còn lại bị kiện ít ra là 2 lần. Số bác sĩ không bị đã dành nhiều thời gian (trung bình 18,3 phút) để trò chuyện với mỗi bệnh nhân hơn số bác sĩ bị kiện (trung bình 15 phút). Họ thường nói những lời có tính định hướng đối với bệnh nhân, chẳng hạn nói "Tôi sẽ khám cho ông bà rồi chúng ta sẽ nói chuyện về bệnh của ông bà" hoặc nói "Tôi sẽ dành thời gian để ông bà có thể hỏi những gì cần biết thêm". Điều này giúp bệnh nhân ý thức được múc đích của cuộc thăm bệnh và khi nào phải đặt câu hỏi. Họ có thể tham gia tích cực hơn vào cuộc đối thoại và có thể vui cười trong lần thăm bệnh. Đáng lưu ý là số lượng và chất lượng thông tin mà bác sĩ nói với bệnh nhân không có gí là khác nhau giữa hai nhóm: chỉ có cách nói là khác nhau. Nhà tâm lý học Nalini Ambady khi nghe những đoạn băng của Wendy Levinson đã chú ý đến những đối thoại giữa các bác sĩ phẫu thuật và bệnh nhân. Cứ mỗi bác sĩ phẫu thuật bà lại chọn ra 2 cuộc đối thoại với 2 bệnh nhân. Bà lựa ra trong mỗi cuộc đối thoại hai đoạn mỗi đoạn 10 giây chỉ toàn lời nói của bác sĩ phẫu thuật. Tổng cộng bà đã cắt ra (slice) 40 giây để phân tích lời nói của bác sĩ. Sau đó bà đã "lọc nội dung" các lời nói bằng cách loại bỏ những âm thanh tần giúp nghe rõ từng chữ. Kết quả chỉ còn nghe được những âm thanh vô nghĩa với sự trầm bổng, cao độ và nhịp điệu. Rồi bà phân tích theo kiểu Gottman. Bà nhờ các thẩm phán đánh giá (rate) các âm thanh ấy theo các tính chất nồng ấm, hận thù, áp đặt, lo âu. Bà đã căn cứ kết quả đáng giá để đoán ra vị bác sĩ phẫu thuật nào đã bị kiện, vị nào không. Bà và các đồng nghiệp đã sững sờ với kết quả thu được. Các thẩm phán không biết được mức độ chuyên môn của các bác sĩ phẫu thuật, cũng không biết kinh nghiệm của họ, quá trình huấn luyện của họ, và những thủ tục họ thường làm. Các thẩm phấn thậm chí cũng không biết các bác sĩ phẫu thuật nói gì với bệnh nhân. Họ chỉ phân tích âm điệu giọng nói của bác sĩ phẫu thuật. Bác sĩ nào có giọng điệu áp đặt thì có khuynh hướng bị kiện. Nếu giọng bớt áp đặt và nhiều quan tâm thì bác sĩ ấy có khuynh hướng không bị kiện. Còn có thể chia cắt nhỏ hơn nữa được không? Chữa bệnh sai xem ra là một trong những vấn đề hết sức phức tạp và có nhiều mặt. Nhung chung quy là vấn đề tôn trọng, và cách đơn giản nhất bày tỏ sự tôn trọng qua cách nói, và cách nói hủy hoại nhất là cách nói áp đặt (dominant tone). Bà Amady đã không cần lấy mẫu toàn bộ lịch sử quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân để từ đó chọn ra cách nói. Bởi vì một cuộc thăm bệnh cũng tương tự như một cuộc tranh luận giữa hai vợ chồng trong thí nghiệm của Gottman. Chia cắt nhỏ kinh nghiệm không phải là một tặng phẩm xa lạ. Nó là trung tâm của nhân loại. Chúng ta chia cắt nhỏ mỗi khi gặp một người lạ, mỗi khi phải hiểu nhanh một vấn đề, mỗi khi ta chạm trán một tình thế chưa hề gặp phải. Chúng ta điều phải chia cắt nhỏ, phải dựa vào khả năng này vì có nhiều tình thế mà nếu chú ý cẩn thận, dù chỉ trong một hai giây, đến những chi tiết của một mẩu rất nhỏ kinh nghiệm, thì cũng hiều được nhiều điều. Nhà điểu học (ornithologist - chuyên nghiên cứu về chim) David Sibley nói rằng phần lớn các nhà điểu học nhận ra một con chim ở rất xa nhờ một thứ ấn tượng mang tính chủ quan thông qua việc quan sát cách bay, lượn, quay đầu ở nhiều góc độ khác nhau. Nhà làm phim Brian Grazer ở Hollywook để lại việc đầu tiên ông gặp Tom Hanks năm 1983. Lúc bấy giờ Hanks chỉ là một diễn viên vô danh của một show diễn trên tive, đến kinh đô điện ảnh để thử vai trong phim Splash. Mới nhìn thấy Hanks ông đã biết anh ta là người đặc biệt. Mặc dù rất nhiều người xin diễn thử, có người còn tức cười hơn Hanks, nhưng ông vẫn thấy Hanks khả ái nhất và có cảm tưởng gần giũ thân cận. Theo ông, để làm người khác cười, bản thân mình phải thú vị, và để được là thú vị, phải làm những việc tầm thường. cái cười xuất phát từ cái giận, thú vị cũng xuất phát từ cái giận: bằng không thì không có mâu thuẫn... Có lẽ nhiều người cũng có ấn tượng như vậy về Tom Hanks. Họ thích anh vì anh đứng đắn, đáng tin, thực tế, và ngồ ngộ; tuy họ không phải là bạn của anh, chỉ thấy anh trong phim với nhiều vai diễn khác nhau. Chỉ qua đoạn phim đã xem, chỉ qua những mẫu kinh nghiệm rất nhỏ ấy, mà đã hình thành một ấn tượng rất mạnh mẽ về những phim Tom Hanks đóng. Khi Grazer quyết định cho Hanks diễn trong cuốn phim ăn khách Apollo 13, ông đã suy nghĩ rằng mặc dầu ông không biết Tom Hanks có phải là nhà du hành vũ trụ không, nhưng ông cho đây là một phim nói về một phi thuyền không gian đang gặp nạn, và ai là người mà thế giới này muốn được thấy lại nữa, ai là người mà nước Mỹ muốn cứu nhất? Đó là Tom Hanks. Họ không muốn anh phải chết. Nếu chúng ta không thể chia cắt nhỏ kinh nghiệm - nếu ta thật sự phải tìm hiểu kỹ mới biết được chân giá trị của một người khác - thì phim Apollo 13 sẽ không có kịch bản và phim Splash sẽ không còn gì là khôi hài nữa. Mới đây có một nhóm chuyên gia tâm lý học lặp lại sự trắc nghiệm tiên đoán khả năng ly dị. Họ lấy một số băng ghi hình các cặp vợ chồng trong thí nghiệm của Gottman rồi cắt nhỏ thành những đoạn chỉ dài 30 giây. Họ cho người tham gia thí nghiệm danh sách 20 biểu hiện tình cảm, rồi cho họ xem mỗi đoạn băng 2 lần, lần đầu chú ý đến hành vi của chồng, lần sau chú ý đến biểu hiện của vợ. Kết quả là những người tham gia đã đoán chính xác 80% về tương lai có ly dị hay không của cặp vợ chồng ấy. Kết quả này tuy không bằng kết quả thí nghiệm của Gottman, nhưng nó đã nói lên một điều rất ấn tượng: Chúng ta đều lão luyện trong việc chia cắt nhỏ kinh nghiệm của bản thân. Nguồn từ sách : Vô thức thích nghi tâm năng động (ĐÀO CHÍNH - ĐOAN NGHIÊM) |











































